Tóm lược sách CHUYỆN NGHỀ CỦA THỦY

“Chuyện nghề của Thủy” là tập hợp những mẫu chuyện ghi lại cuộc đời làm nghề hơn 40 năm của đạo diễn Trần Văn Thủy. Tác phẩm được viết bằng ngôn từ giản dị, nhưng lại có một sức sống mãnh liệt, bởi sự chân thực đến mà thẳng thắn của tác giả, không che giấu, không xu nịnh, được bóc tách phân tích qua từng câu chuyện, từng trải nghiệm nghề. Để từ đó, chúng ta có hiểu hơn về thời cuộc, về thân phận con người trong xã hội thời bấy giờ, nhưng cũng chưa bao giờ được xem là cũ đến tận nay hôm nay.

Tác phẩm đã phơi bày trắc trở và uẩn khúc giữa người làm nghệ thuật với thế lực cầm quyền, thông qua những cuộc phiêu lưu của đạo diễn Trần Văn Thủy trong thời chiến và cả thời bình. Nhớ lúc còn ở chiến trường, ông đầu quân làm cán bộ văn hóa tại vùng miền núi Tây Bắc, lưu lạc đến khi nhận làm phóng viên măt trận để nhiều lần chạm trán với cái chết. Chỉ có đam mê và trách nhiệm cao nhất với nghề, ông mới có thể sống và ghi lại những thước phim xuất sắc như thế. Nhưng công cuộc đưa những bộ phim ấy đến tay công chúng là cả một quá trình gian khó và đầy nguy hiểm, trước nhiều tầng lớp thế lực. Đạo diễn Trần Văn Thủy chia sẻ, ông luôn ở trong nguy cơ có thể bị giam bất cứ lúc nào. Đến là khổ!

Tại sao đạo diễn Trần Văn Thủy lại “tự làm khổ mình” để chọn đi vào thể loại phim tài liệu, mà lại là về thân phận và cuộc sống của con người? Chắc tại do quan điểm của ông: làm phim thì phải hay, muốn hay thì phải thật. Mà muốn thật thì phải lao vào cuộc sống để tiếp xúc, gặp gỡ, vậy mới có thể hiểu được thân phận của con người. Như trong bộ phim Chuyện Tử Tế, tất cả chỉ xuất phát từ câu kích của người bạn Đồng Xuân Thuyết là phải làm một cái gì đó bắt đầu từ tình thương yêu con người, đi từ nỗi đau của con người. Từ đó, ông mong muốn làm một bộ phim tử tế, nhưng thậm chí kịch bản chi tiết còn không có, chỉ là đại khái ý tưởng trong đầu, phần còn lại thì tới đâu tính tới đó, vừa đi vừa làm, vừa làm vừa nghĩ, vừa tìm kiếm nhân vật. Mọi thứ nghe lạ, nhưng nó giống như diễn biến của một cuộc sống thật vậy, được thể hiện qua hành trình làm phim. Nói vậy thôi, chứ chắn chắn phải có bản lĩnh và nhân cách lắm mới làm được những thước phim như thế, chứ không cũng chỉ để lấy lòng người hoặc không bao giờ có những tác phẩm lay động đến vậy.

TỬ TẾ, có lẽ đó là thông điệp lớn nhất, rõ ràng nhất trong cả cuộc đời làm nghề của đạo diễn Trần Văn Thủy. Ông không nói suông, cũng không trên trời dưới đất mà đi từ những câu chuyện nhức nhối tận thời ông đến thời nay mà bao chục năm qua vẫn không lời giải. Chỉ xin kể lể một ví dụ để bạn có thể hình dung nó xót xa đến thế nào.

Trong sách có đoạn viết về những túp lều không người, bên trong có treo vài loại thực phẩm tự nhiên: mấy nải chuối, vài mớ bắp, trứng gà…, ai cần gì thì lấy cái đó và tự bỏ tiền vào cái giỏ con bên cạnh. Về sau người Kinh lên đặt cho nó cái tên của chữ cách mạng nghe hay lắm “Quán tự giác”. Được cái tên hay thì nó cũng thoi thóp và “tự giác”… chết, vì hàng trong quán biến mất mà giỏ đựng tiền thì rỗng không.

Quán lá tan hoang, cối nước chỏng chơ. Người Kinh như con ma rừng, đi đến đâu, nơi ấy nhiều cái vốn đang hay, đang đẹp lụi tàn dần hoặc được làm cho “hay” hơn, “đẹp” hơn rồi chết. Cái hồn rừng, hồn núi mộc mạc thật thà teo tóp cả. Chà, người Kinh, cái giống người kinh… hãi của núi rừng.

Những dòng chữ trên của đạo diễn Trần Văn Thủy cách nay đã hơn 40 năm, thế nhưng nó vẫn đang tồn tại đến tận bây giờ. Đúng vậy, Kinh là dân tộc có nhiều cái nhất nước: đông nhất, phát triển kinh tế mạnh nhất, có lẽ trình độ sản xuất cao nhất, thế nhưng không có nghĩa ở đấy có sự tồn tại của sự tử tế. Đó là cái đáng buồn, hình như trong thời đại này, tử tế, thật thà là thứ gì đó xa xỉ, chỉ một nhóm nhỏ người mới sở hữu được? Bên ngoài và bên trong họ khác nhau. Ngoài thì có vẻ đáng tôn trọng, nhưng có thật không? Hay đó chỉ là cái mác cho một tộc người vốn là thứ gì đó “kinh hãi” trong con mắt của núi rừng, của trong veo tinh khiết chốn hoang vu, của những người dân tộc thiểu số?

Người Kinh đã, đang và sẽ còn tiếp tục làm rất nhiều thứ tốt đẹp. Nhưng liệu cái tốt đẹp ấy có thật sự cần cho những vùng đất ở đó hay không? Hay chỉ là lớp vỏ bọc bên ngoài để cho thủ đoạn khai thác, đồng hóa người địa phương? Những câu hỏi không lời đáp…

Chúng ta đã đánh mất quá nhiều điều giá trị về văn hóa, tinh thần, cung cách ứng xử được lưu giữ ở những vùng núi xa xôi, của những dân tộc thiểu số. Đi rộng ra, không chỉ ở Tây Bắc, mà nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã từng nêu lên thực trạng hết sức đau lòng về vùng đất và con người Tây Nguyên đã và đang mất mát công cuộc phát triển kinh tế nước nhà. Núi rừng chỏng chơ, nhà sàn, nhà rông thật đang dần mất đi; thay vào đó là những căn nhà tường kiên cố giả nếp nhà sàn. Cái hồn trong veo của vùng đất, con người nơi ấy cũng bị “kinh” hóa. Người dân tộc bị “ép” để rồi tự họ đánh mất sự tự giác, chủ động trong đời sống sinh hoạt của mình.

Người Kinh đã đi quá xa với sự tử tế mà lại ngộ nhận đó là tử tế. Một khi được ban phát không đúng cách, thiếu phù hợp với con người, vùng đất địa phương thì nó chỉ có thể trở nên tai hại, trở thành một cổ máy nghiền nát những giá trị tốt đẹp, truyền thống lẽ ra cần được bảo tồn. Hay nói như lời của tác giả, đó chỉ là những điều vớ vẩn. Từ đó càng thấy vấn đề của Trần Văn Thủy đặt ra là nhức nhối, “Suy cho cùng thì vấn đề của xã hội Việt Nam bây giờ chính là vấn đề nhân cách” mà thôi.

Để có thể tồn tại, phát triển bền vững ở góc độ cá nhân cũng như xã hội, phải nhớ như in câu này của tác giả, làm sao để nó ngấm vào máu thịt: “Từ rất xa xưa, cha bác có dạy rằng: Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên, hay trên lễ đài của Quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chỉ hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn”.

Làm sao để có sự tử tế? Đây là một câu hỏi quan trọng. Thiết nghĩ, là do giáo dục. Ngay từ đầu đã “tiêm nhiễm” vào cái đầu và trái tim trong sáng của các em những điều thiếu tử tế, thiếu trung thực, nên chả trách sao mọi thứ đang diễn ra như cách nó đúng là như vậy. Một nền giáo dục tử tế sẽ không bao giờ bảo những điều mà thực tế và lý thuyết quá khác xa nhau: “Các em yêu quý! Các em là những đứa trẻ hạnh phúc, vì các em là con Hồng cháu Lạc – Giang sơn của các em là gấm vóc, thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên giàu có, tiền rừng bạc biển”. Rõ ràng là nguy hiểm, bởi “Loài người từ khi sinh ra đã có thói quen nói điều mình nghĩ, nhưng có lẽ chưa bao giờ nói dối trở thành bình thường như bây giờ”. Sự dối trá đã đi vào trường học, ngay từ khi còn nhỏ thì còn gì nguyên hiểm hơn. Thay vì vậy, chỉ có một cách, dó là “Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người – người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang, hoặc siêu phàm”.

Nhưng, một khi vẫn còn niềm tin giữa con người với con người, vẫn còn những thổn thức “Đành rằng đời là cõi tạm nhưng đang sống với đời làm sao vô tâm với đời được”, thì tác phẩm “Chuyện nghề của Thủy” vẫn có chỗ đứng, với hy vọng làm thức tỉnh con người, đánh thức lòng tử tế nơi con người, để đất nước này trở nên tốt đẹp hơn, chứ không phải một xã hội bất hạnh và luôn được che giấu bởi những điều hảo huyền, đẹp đẽ bên ngoài.

Nhóm viết bài: Minh Quân, Tuyết Trinh, Trí Thể
Chương trình phát triển Hạt Giống Lãnh Đạo Doanh Nghiệp IPL – khóa 3

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s